TÌM HIỂU TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG ASEAN VÀ SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH HỘI HỮU NGHỊ VIÊT NAM-ASEAN Ở TỈNH ĐĂK LĂK.

        Trong bức tranh đa dạng của thế giới, sau chiến tranh lạnh, xuất hiện nhiều tổ chức hợp tác và liên kết kinh tế khu vực, thu hút sự hội nhập của nhiều quốc gia, nhiều nền kinh tế. Trong đó, ngoài tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời từ hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch Quốc tế (GATT) được ký năm 1947 nhằm điều hòa chính sách thuế quan của các nước tham gia ký kết, phải kể đến liên minh Châu Âu (EU), tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC). Hòa vào dòng chảy chính của thế giới là toàn cầu hóa khu vực hóa ASEAN ra đời với mục tiêu cơ bản là đảm bảo ổn định, an ninh và phát triển của toàn khu vực Đông Nam á.

           Từ một tổ chức liên minh kinh tế chính trị xã hội lỏng lẻo ASEAN đã vươn lên thành một khối khá vững chắc với nền kinh tế phát triển, an ninh chính trị tương đối ổn định. Nghiên cứu thị trường tiềm năng rộng lớn với diện tích gần 4,5 triệu km2, dân số 612 triệu người dân này, sẽ mở ra cơ hội mới cho hàng xuất khẩu Việt Nam. Chúng ta hy vọng vào một tương lai không xa ASEAN sẻ trở thành một thị trường thống nhất và phát triển.

I. SỰ RA ĐỜI CỦA "HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á"(ASEAN) VÀ SỰ THAM GIA TÍCH CỰC CỦA VIỆT NAM.

       Cách đây 47 năm, vào ngày 8/8/1967, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời với năm thành viên ban đầu là In- đô- nê- xi-a, Ma- lai- xi- a, Phi- líp- pin, Singapere và Thái lan; ASEAN ngày nay đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên chính phủ bao gồm cả 11 quốc gia Đông nam Á (thêm 6 nước là Bru - nây, Việt nam, Lào, Mianma, Campuchia và nước quan sát viên Đông- ti - mo), là một thực thể chính trị - kinh tế quan trọng ở Châu Á - Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn và các trung tâm quan trọng trên thế giới.

         Năm 1992 đánh dấu quá trình hội nhập khu vực của Việt Nam sau khi tham gia hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông nam Á (TAC), và trở thành quan sát viên, tham dự các hội nghị Bộ trưởng ASEAN (AMM) hàng năm. Tháng 7/1994 Việt Nam được mời tham dự cuộc họp đầu tiên của diễn đàn khu vực ASEAN(ARF) và trở thành một trong những thành viên sáng lập diễn đàn này.

         Ngày 28/7/1995, tại Hội nghị Bộ Trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 28 (AMM- 28) tại Bru – nây, đa - rút- xa- lam, Việt nam chính thức gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này. Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN và có những đóng góp tích cực trong việc duy trì đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên cũng như giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển và thành công của ASEAN ngày hôm nay. Đóng góp đầu tiên đáng ghi nhận của Việt Nam trong ASEAN là vai trò tích cực của Việt Nam trong việc thúc đẩy kết nạp các nước: Lào, Mi- an - ma và Cămpuchia vào ASEAN, qua đó, hoàn tất ý tưởng về một ASEAN gồm các quốc gia ở Đông nam Á, đưa ASEAN trở thành tổ chức đại diện cho toàn khu vục. Chỉ một thời gian sau khi Việt Nam gia nhập, ASEAN đã phải trải qua một giai đoạn khó khăn ngặt nghèo do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vưc năm 1997. Nhiều nước thành viên nằm trong tâm bão đã phải hứng chịu những hậu quả khủng hoảng tài chính kinh tế từ đó gây bất ổn nghiêm trọng về xã hội. Trong bối cảnh đó, năm 1998 Việt Nam được phân công tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 và tổ chúc đã thành công rực rỡ. Việt Nam tiếp tục đảm nhiệm cương vị chủ tịch Ủy ban Thường trực ASEAN (ASC) khóa 34, tổ chức một loạt hội nghị quan trọng nhằm củng cố lại đoàn kết, hợp tác, tăng cường vị thế của ASEAN sau khủng hoảng với quan điểm trước hết cần tạo ra một khối liên kết nội bộ mạnh để nâng cao vị thế của ASEAN trên trường Quốc tế. Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ cùng các nước trong khu vực trên các diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) ; Diễn đàn sau hội nghị Bộ Trưởng An ninh (PMC) nhằm đối thoại với các nước và các khu vực kinh tế trên thế giới. Đặc biệt trên mọi diễn đàn, Việt Nam luôn khẳng định những nguyên tắc cơ bản đã thành bản sắc riêng của ASEAN là "đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau" góp phần giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong ASEAN. Bên cạnh việc tham gia tích cực vào tất cả các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành như: Khoa học công nghệ, Văn hóa thông tin, phòng chống tệ nặn xã hội .... Việt Nam còn mạnh dạn đăng cai tổ chức các hội nghị về hợp tác được các nước trong khối ASEAN đánh giá cao như: Tuần lễ khoa học và công nghệ ASEAN năm 1998, tuần Văn hóa ASEAN năm 2004, hội nghị tay nghề ASEAN ... quan hệ của ASEAN với các đối tác bên ngoài, nhìn chung các đối tác bên ngoài đều coi trọng và tranh thủ quan hệ với ASEAN cũng tác động đến Hiệp hội cả về đa phương và song phương nhằm hổ trợ chính sách và lợi ích của họ ở khu vực. Các đối tác đều cam kết ủng hộ và hổ trợ ASEAN xây dựng cộng đồng, thu hẹp khoảng cách phát triển và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong các tiến trình khu vực ASEAN khởi xướng như: ASEAN+3, EAS, ARF; hỗ trợ đáng kể về tài chính ở mức độ khác nhau. Gần đây, các đối tác này ngày càng quan tâm đến việc lồng ghép chính sách song phương và đa phương trong quan hệ với ASEAN do Hiệp hội ngày càng trở thành thực thể chính trị - kinh tế gắn kết hơn. Đến nay, đã có 27 nước cử đại sứ về ASEAN, quan hệ đối ngoại ASEAN bao gồm các khuôn khổ ASEAN+1, ASEAN+3, cấp cao Đông Á (EAS) và diễn đàn khu vực ASEAN. Cụ thể gồm:

          1/ Khuôn khổ ASEAN+1 hiện nay quan hệ đối thoại và hợp tác với 10 nước (Trung quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, PaKistan, Ốt- xtrây-lia, NiuDi-lân, Nga, Hoa Kỳ và Canađa), 1 tổ chức khu vực là Liên minh Châu Âu (EU) và 1 tổ chức quốc tế là Liên Hợp Quốc. ASEAN hiện là quan sát viên của LHQ và có quan hệ với nhiều tổ chức khu vực khác trên thế giới.

          2/ Tiến trình ASEAN+3 (với ba nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc). Khuôn khổ này được hình thành năm 1997 với việc họp cấp cao không chính thức lần đầu tiên giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và được chính thức hóa năm 1999 với việc thông qua tuyên bố chung về hợp tác Đông Á. ASEAN+3 ra đời xuất phát từ nhu cầu hợp tác của các nước khu vực nhằm đối phó với tác động của khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997.

       3 / Cấp cao Đông Á (EAS): EAS ra đời tháng 12/2005 với sự tham gia của 16 thành viên gồm 10 nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ốt-xtrây-lia và NiuDi- lân. Tại Hội nghị EAS đầu tiên, Lãnh đạo các nước đã ký Tuyên bố chung về cấp cao Đông Á, trong đó đề ra mục tiêu, nguyên tắc, lĩnh vực và các phương thức chính cho hoạt động của EAS. Theo đó, EAS sẽ là diễn đàn của các lãnh đạo đối thoại về các vấn đề chiến lược nhằm hổ trợ mục tiêu xây dựng cộng đồng ở khu vực Đông Á; là một tiến trình mở và thu nạp, trong đó ASEAN giữ vai trò chủ đạo; bổ sung và hổ trợ cho các diễn đàn khu vực khác hiện có, họp hàng năm do ASEANchủ trì cấp cao ASEAN.

Lãnh đạo các nước đã nhất trí xác định 5 lĩnh vực hợp tác ưu tiên gồm năng lượng, tài chính, giáo dục, thiên tai và bệnh dịch, tiến hành tiệm tiến và tận dụng các cơ chế hiện có của ASEAN( ASEAN+1, +3...). Đến nay, cấp cao Đông Á đã họp 4 lần; chưa lập cơ chế hỗ trợ chính thức, nhưng đã tổ chức một số cuộc họp không chinh thức ở kênh ngoại giao (Bộ trưởng Ngoại giao và cấp quan chức cao cấp) và một số kênh khác thuộc các lĩnh vực ưu tiên như Hội nghị Bộ trưởng Môi trường EAS, Hội nghị Bộ trưởng năng lượng EAS. Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 2 về lập đối tác kinh tế toàn diện Đông Á(CEPEA) của kênh II đã hoàn tất và trình lên cấp cao ĐôngÁ lần thứ 4 (Thái Lan, 25/10/2009).

     4/ Diễn đàn khu vực ASEAN(ARF): Diễn đàn này được thành lập năm 1994, tạo ra khuôn khổ thích hợp cho ASEAN và các đối tác bên ngoài tiến hành đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị - an ninh ở Châu Á - Thái Bình Dương ở cấp quan chức và Bộ trưởng ngoại giao. Với 17 nước thành viên ban đầu, đến nay ARF đã có 27 thành viên, và đang có thêm nhiều quốc gia khác xin tham gia. ARF dự kiến sẽ trải qua ba giai đoạn phát triển theo tuần tự là: Xây dựng lòng tin(CBM); Ngoại giao phòng ngừa(PD); và xem xét cách thức giải quyết xung đột. Đến nay, ARF đang chuyển giai đoạn từ CBM sang PD trong lúc vẫn tiếp tục thực hiện CBM. Các lĩnh vực đối thoại và hợp tác bao gồm cả các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống. Cùng với các quan chức ngoại giao, sự tham gia của các quan chức quốc phòng vào tiến trình ARF ngày càng sâu rộng và được nâng cấp dần. Hội nghị Bộ trưởng diễn đàn ARF lần thứ 16 (tháng 7/2009) đã thông qua Tuyên bố tầm nhìn ARF, văn kiện định hướng phát triển của ARF đến năm 2020.

II/ KINH TẾ CỦA  ĐÔNG NAM Á GIỮ ĐÀ TĂNG TRƯỞNG MẠNH.

    Dự kiến cuối năm nay cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẻ thành lập với mục tiêu tạo dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên. GDP của ASEAN ước tính năm 2014 theo tỷ giá hối đoái thực tế đặt trên 2500 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đặt khoảng 4000 USD (nếu tính theo tỷ giá sức mua tương đương đặt khoảng 7800 USD), tuy thấp hơn của châu Á và thế giới, nhưng lại có tốc độ tăng cao hơn. ASEAN cũng là khu vực có độ mở lớn (so với GDP, xuất khẩu bằng 67,5%, nhập khẩu bằng 63,7%) và vị thế xuất siêu trong quan hệ buôn bán với ngoài khu vực (bằng trên 5,6% kim ngạch xuất khẩu và bằng 3,8% GDP). Khu vực ASEAN tuy bị khủng hoảng tài chính cách đây hơn 15 năm, nhưng đã sớm được khắc phục; có dự trữ quốc tế tăng và hiện đạt quy mô tương đối khá (năm 2012 đạt gần 800 tỷ USD, bằng khoảng 35,2% GDP, bằng khoảng 55,2% kim ngạch nhập khẩu). Nằm trong khu vực ASEAN, tổng GDP tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái nếu năm 1995 của Việt Nam đạt 20,8 tỷ USD, đứng thứ 7, thì năm 2014 đã đạt 187 tỷ USD, đứng thứ 6 (sau Indonesia, Thái lan, Malaysia, Singapore, Philipines). Nếu tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương thì thứ bậc của Việt Nam cao hơn. Kết quả tất yếu khi Việt Nam đạt được tốc độ tăng tương đối cao, theo đó, tốc độ tăng GDP (giá so sánh) thời kỳ 1995 - 2014 của Việt Nam đạt 6,77%/năm, chỉ đứng thứ 2 sau Myanmar). Tuy nhiên , trong thời kỳ 2009 - 2014 Việt Nam chỉ đạt 5,79%, đứng thứ 4, sau Myanmar, Lào, Indonesia.

    GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái của Việt Nam, nếu năm 1995 đạt 289 USD, đứng thứ 10 khu vực; năm 2014 đạt khoảng 2061 USD, vượt lên đứng thứ 7 (sau Singapere, Brunei, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philipins). Theo đó, về tỷ lệ Việt Nam so với các nước ASEAN năm 2014 đều cao hơn năm 1995, nhưng về mức chênh lệch tuyệt đối năm 2014 lớn hơn so với năm 1995.Nói cách khác, nếu chỉ nhìn tốc độ tăng GDP thì khó thấy khả năng tụt hậu, nhưng về mức chênh lệch tuyệt đối, thì Việt Nam vẫn nằm trong xu hướng tụt hậu xa hơn.

       Việt Nam là nước có tỷ lệ tích lũy/GDP thuộc loại cao (27,2%, chỉ sau Indonesia, Lào, Thái lan). đây là một trong những ưu thế, động lực tạo nên tốc độ tăng GDP cao hơn và đạt được trong thời gian tương đối dài. Việt Nam có tỷ lệ tiêu dùng/GDP đạt 70,4%, cao thứ 4( sau Philipins, Cămpuchia, Lào), chủ yếu do quy mô GDP còn nhỏ, mức tiêu dùng cuối cùng từ điểm xuất phát thấp. Ngược lại, Việt Nam có tỷ lệ giữa thu nhập quốc gia GNI/GDP ở mức thấp (95,6%), đứng thứ 7 sau Đông Timo, Philipine, Singapore, Indonesia, Malaysia, Thái lan). Điều đó chứng tỏ, mặc dù lượng kiều hối lớn, nhưng phần thu của nước ngoài về đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, hỗ trợ phát triển chính thức,... cũng rất lớn, nên phần thực thu nhập (GNI) thấp hơn phần sản xuất ra (GDP).

Về tổng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam năm 2014 đạt trên 35 tỷ USD, đứng sau số liệu tương ứng năm 2012 của Singapere 259,1 tỷ USD, Thái lan 173 tỷ USD, Malaysia 137,8 tỷ USD, Indonesia 108,8 tỷ USD, Philipines 73,5 tỷ USD); nếu tính bình quân đầu người còn thấp hơn. Vấn đề đặt ra là, Việt Nam phải phấn đấu xuất siêu trong cán cân thương mại, sử dụng hiệu quả vốn ODA và các khoản vay nợ, tranh thủ khi tỷ giá tăng thấp để mua ngoại tệ, tăng dự trữ. Tỷ lệ giữa xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ/GDP của Việt Nam năm 2014 đạt 86,2%, thuộc loại cao (đứng thứ 4 sau Singapere, Malaysia, Brunei). Tuy nhiên, xuất khẩu dịch vụ còn nhỏ, nhập siêu về lĩnh vực này còn lớn, nhất là dịch vụ vận tải, bảo hiểm. Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ bình quân đầu người của Việt Nam tăng lên và hiện thuộc loại cao so với các nước ASEAN (nếu năm 1995 mới đạt 75,7USD, đứng thứ 8 trong khu vực thì năm 2014 đã đạt 1655,3 USD, đứng thứ 5 sau Singapere, Brunei, Malaysia, Thái lan), tuy cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam có cải thiện, nhưng tỷ trọng hàng là nguyên liệu thô, nông sản chưa qua chế biến hoặc tinh chế còn cao; tính gia công lắp ráp còn lớn, nên giá trị gia tăng còn thấp.

      Dự kiến cuối năm 2015 cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ thành lập với mục tiêu tạo dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên, gắn với thúc đẩy tự do lưu chuyển hàng hóa dịch vụ, đầu tư và lao động. Cùng với các cơ hội, Việt Nam cũng sẻ gặp không ít các thách thức, khi phải cạnh tranh với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ ASEAN với mẫu mã phong phú, đa dạng, chất lượng tốt, giá rẻ.... Do đó, vấn đề đạt ra đối với cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh, tăng cường liên kết, hợp tác ở các nước, nếu không Việt Nam sẽ trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa cho các nước trong khu vực (Theo tạp chí Huế.com.vn).

      Ban thư ký Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vừa công bố số liệu thống kê mới nhất về thành tựu kinh tế của khối năm 2013. Theo đó, ASEAN đã đạt mức tăng trưởng thực tế tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 5,1%, với thương mại hàng hóa quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng lần lượt 1,4% và 7,1%. Xét về GDP danh nghĩa, năm 2013 GDP của ASEAN đã tăng lên 2400 tỷ USD từ mức 2300 tỷ USD của năm 2012 và GDP bình quân đầu người tăng từ 3761 USD lên 3837 USD. Indonesia tiếp tục là nền kinh tế lớn nhất ASEAN với GDP đạt 863 tỷ USD, tiếp theo là Thái Lan với 388 tỷ USD, Malaysia với 312 tỷ USD. Xét về GDP bình quân đầu người, đứng đầu khối là Singapere với 55.183 USD, tiếp theo là Brunei với 39.677 USD và hai nền kinh tế này cũng có tỷ lệ lạm phát thấp nhất, ở các nước tương ứng 1,5% và 0,2%. Về các chỉ số kinh tế vĩ mô khác, báo cáo cho biết, năm 2013 thương mại hàng hóa quốc tế của ASEAN đã tăng lên 2500 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chiếm 1300 tỷ USD và nhập khẩu là 1200 tỷ USD. Trao đổi thương mại giữa các nước thành ASEAN chiếm 24,2% tổng thương mại của khu vực. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất, chiếm 12% xuất khẩu và 16% nhập khẩu của ASEAN. Các đối tác thương mại lớn khác của khối là Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản và Mỹ. Máy móc và thiết bị điện là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của ASEAN với kim ngạch 277 tỷ USD, trong khi các mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất của khối là dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu mỏ trị giá 274 tỷ USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ASEAN đã tăng từ 114 tỷ USD năm 2012 lên 122 tỷ USD năm 2013, trong đó đầu tư nội khối tiếp tục duy trì đà gia tăng và chiếm 17% tổng giá trị FDI của ASEAN. Trong gia đoạn 2011- 20013, ASEAN nhận được FDI nhiều nhất từ EU và Nhật Bản, chiếm gần 40% tổng vốn FDI của ASEAN. Riêng trong năm 2013, FDI từ EU chiếm 22% tổng vốn FDI đổ vào ASEAN, tiếp theo là Nhật Bản với 18,7%.( Nguồn TTXVN/Vietnam).

        Quỹ tiền tệ Quốc tế mới đây dự báo, đến năm 2014 tổng GDP của 5 nước ASEAN gồm: Indonesia, Thái lan, Philippines, Malaysia và Việt Nam sẻ lần đầu tiên vượt tổng GDP của "4 con hổ châu Á" gồm vùng lãnh thổ Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Hong Cong. Trong khi 10 năm trước, tổng GDP của 5 nước ASEAN nói trên chỉ bằng một nửa của "4 con hổ châu Á" đó. Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng cao đã nói lên kinh tế của cả khu vực Đông Á đang có sự thay đổi về kết cấu. Kinh tế khu vực này sẽ không chủ yếu dựa vào mở rộng xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ nữa, mà dựa vào sự gia tăng đầu tư và tiêu dùng cũng như đầu tư và thương mại giữa các nền kinh tế trong khu vực. Kinh tế khu vực châu Á đang thể hiện sức sống hơn bao giờ hết. Dựa vào đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gần như là ưu tiên xem xét của hầu hết các nước ASEAN.

      Singapore và Malaysia mới đây tuyên bố, hai nước sẽ xây dựng tuyến đường sắt cao tốc kết nối Singapere với thủ đô Kualalumpur của Malaysia, dự kiến sẽ hoàn thành vào trước năm 2020. Trong khi đó, tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên của Thái Lan cũng sẽ được khởi công vào cuối năm 2014. Bên cạnh đó, kinh tế Trung Quốc phát triển theo hướng tốt cũng sẽ tiếp tục tác động tích cực cho tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN.

Từ các nguồn thông tin đã phân tích trên cho chúng ta thấy rằng kinh tế một số nước trong khối ASEAN ngày càng có chiều hướng phát triển vững chắc, kinh tế phát triển thì chính trị - xã hội, an ninh quốc phòng cũng sẽ ổn định. Chúng ta hy vọng vào một tương lai không xa ASEAN sẽ trở thành một thị trường thống nhất và phát triển, là thị  trường tốt nhất để tiếp nhận các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam tham gia tích cực vào tất cả các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành như: Khoa học công nghệ, văn hóa thông tin, phòng chống tệ nặn xã hội... Đồng thời Việt Nam là thành viên của ASEAN sẽ luôn có tiếng nói và chủ động đóng vai trò, trong định hướng, hình thành các văn kiện và chiến lược phát triển quan trọng như: Hiến chương ASEAN, lộ trình xây dựng các cộng đồng ASEAN, kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN, kế hoạch công tác thưc hiện sáng kiến hội nhập ASEAN được các nước thành viên và các đối tác coi trọng và đánh giá cao. Nhiều cuộc họp bàn về chiến lược tiếp tục đưa cộng đồng ASEAN phát triển vững mạnh sau năm 2015 là bảo đảm hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực,... xây dựng và chia sẻ các chuẩn mực ứng xử cũng như giá trị của các công cụ hợp tác chính trị, an ninh ở khu vực như: Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á, tuyên bố về ứng xử ở Biển Đông, hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân.

III/ SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH HỘI HỮU NGHỊ VIỆT NAM - ASEAN Ở TỈNH ĐĂK LĂK.

Đăk Lăk là một trong năm tỉnh Tây Nguyên của Tổ quốc, là một địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước, cả về kinh tế, văn hóa, chính trị, an ninh và quốc phòng. Đăk Lăk có diện tích đất Bazan rộng lớn, khí hậu ôn hòa, tiềm năng kinh tế phát triển, mũi nhọn là: nông nghiệp và lâm nghiệp đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày (cà phê, cao su, tiêu, điều, bông vải..) có giá trị kinh tế để  xuất khẩu cho các nước trên thế giới, trong đó có các nước cộng đồng ASEAN.

  Đăk Lăk là một tỉnh đa dân tộc (44/54 dân tộc), thành phố Buôn Ma Thuột là thành phố trung tâm vùng Tây Nguyên, cơ sở hạ tầng phát triển (đường hàng không, điện, đường, trường, trạm, nước sạch, ... được xây dựng đến tận buôn làng vùng sâu, vùng xa. Do đó, nhu cầu hưởng thụ văn hóa - du lịch (nghe- nhìn), ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh,... đầu ra các loại sản phẩm của nhân dân các dân tộc tỉnh ĐăkLăk thuận lợi hơn nhiều so với các tỉnh miền núi khác trong cả nước. Đăk Lăk là nơi du lịch hấp dẫn, cách hai năm tỉnh tổ chức lễ hội fetival càphê, lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên và một số lễ hội khác thu hút nhiều khách trong nước, khách nước ngoài trong đó có khách đại diện từ các nước cộng đồng ASEAN tham dự, thưởng các chương trình văn hóa, nghệ thuât các dân tộc tỉnh Đăk Lăk. Đăk Lăk có nhiều điểm du lịch hấp dẫn (Voi, thác Dray sáp, Dray Nul) hùng vĩ và thu hút nhiều khách du lịch hàng năm. Theo số liệu báo cáo của UBND tỉnh năm 2014 có khoảng 48.000 lượt khách nước ngoài đến thăm quan du lịch trên địa bàn tỉnh. Sự có mặt của khách trong nước và ngoài nước vào những ngày lễ hội của tỉnh đã giúp tỉnh quảng bá thế mạnh của mình về kinh tế (thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột), hình ảnh con người và nền văn hóa Việt Nam nói chung và các dân tộc tỉnh Đăk Lăk nói riêng được nhiều người của các quốc gia trên thế giới biết và quan tâm.

        Đăk Lăk vẵn giữ gìn bản sắc Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, tiêu biểu là nền Văn hóa Êđê, Mnông. Nếu Hội hữu nghị Việt Nam - ASEAN được thành lập thì việc mở rộng giao lưu văn hóa của các dân tộc tỉnh Đăk Lăk với các nước cộng đồng ASEAN rất thuận lợi; một số nước trong cộng đồng ASEAN cũng có điểm tương đồng về ngôn ngữ - văn hóa, phong tục tập quán ,... với dân tộc bản địa ở tỉnh Đăk Lăk như (Idonesia). Văn hóa luôn gắn với du lịch, bởi vì các điểm du lịch hiện nay của tỉnh Đăk Lăk còn nguyên vẹn cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp đang cần nguồn vốn đầu tư để phát huy thế mạnh của du lịch và tạo nguồn thu cho tỉnh. Văn hóa - du lịch phát triển bền vững sẽ thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan nghỉ ngơi.

         Liên hiệp các tổ chức  hữu nghị tỉnh là một tổ chức chính trị - xã hội chuyên trách về đối ngoại nhân dân, là thành viên của Mật trận Tổ quốc  Việt Nam tỉnh, có vai trò làm đầu mối phối hợp trong một số hoạt động đối ngoại nhân dân, phối hợp với Sở Ngoại vụ vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài, là tổ chức làm công tác chính trị đối ngoại và là bộ phận cấu thành của lực lượng đối ngoại chuyên trách của  tỉnh ta. Đổi mới  và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, cho nên trong những năm vừa qua, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh đã ký kết Chương trình phối hợp về công tác đối ngoại nhân dân giữa Liên hiệp các tổ chức hữu nghị với Mật trân Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Đoàn  TNCS Hồ Chí Minh tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, phối hợp tuyên truyền đối nội, đối ngoại tổ chức tương đối tốt. Tôi nghĩ rằng, các hoạt động hòa bình, đoàn kết và hữu nghị sẽ phát huy tác dụng trên cơ sở  có sự phối hợp chặt chẽ giữa Liên hiệp với Mật trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức Đoàn thể, tổ chức nhân dân, các cấp, các ngành,.... Phát huy thế mạnh văn hóa - du lịch cùng chính quyền địa phương, tổ chức Hội nghị tuyên truyền lồng ghép công tác đối ngoại nhân dân với một số chương trình khác ví dụ như: tổ chức hội thi văn nghệ quần chúng, hình thành cho mỗi  người dân là một "sứ giả" để quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam nói chung, Đăk Lăk nói riêng, tình hình phát triển kinh tế - xã hội sau 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền tỉnh Đăk Lăk cho nhân dân trên thế giới trong đó có nhân dân các nước cộng đồng  ASEAN.  Hội hữu nghị Việt Nam - ASEAN được thành lập không những tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiêp tỉnh nhà tiếp cận thị trường ASEAN trao đổi hàng hóa, xuất khẩu lao động, học tập, tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến,.... mà còn có tiếng vang tốt cho các tỉnh Tây Nguyên.

        Sự ra đời của Hội các nước Đông Nam Á(ASEAN) với mục tiêu cơ bản là đảm bảo ổn định, an ninh và phát triển của toàn khu vực ĐôngNam Á. Qua phân tích về sự tham gia tích cực của Việt Nam vào cộng đồng ASEAN và  các thông tin về kinh tế của một số nước trong khu vực, quan hệ của ASEAN với các nước lớn. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng một tương lai không xa, Hội các nước ĐôngNam Á( ASEAN) sẽ là một thị trường hấp dẫn, thống nhất, phát triển và mở ra cơ hội tốt cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt nam nói chung và các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh Đăk Lăk nói riêng. Do đó, hưởng ứng ngày kỷ niệm 20 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, việc hình thành Hội hữu nghị Việt Nam - ASEAN ở tỉnh Đăk Lăk là rất cần thiết.

                                                ĐăkLăk, ngày 7  tháng 7 năm 2015

                                                               H’  LUỘC  NTƠR

                                                            Phó chủ tịch Liên hiệp

 

Additional information